Tắc kè là loài bò sát sống ở các hốc cây, hang đá có ở khắp các tỉnh miền núi nước ta. Mùa săn bắt thường từ tháng 5 đến tháng 10, lúc này tắc kè thường kêu nên dễ phát hiện.
Tắc kè tên khoa học là Gekko gekko L. Bộ phận dùng cả con đã chế biến bằng cách nhúng nước sôi hoặc dùng rượu làm sạch lông, vảy, loại bỏ phủ tạng, đầu (chặt từ sau hai u mắt) và bàn chân. Có thể dùng tươi hay tẩm rượu nướng vàng để dùng.
Tắc kè tên khoa học là Gekko gekko L. Bộ phận dùng cả con đã chế biến bằng cách nhúng nước sôi hoặc dùng rượu làm sạch lông, vảy, loại bỏ phủ tạng, đầu (chặt từ sau hai u mắt) và bàn chân. Có thể dùng tươi hay tẩm rượu nướng vàng để dùng.
![]() |
| Tắc kè |
Trong tắc kè có chứa chất béo, các acid amin tối cần thiết cho cơ thể và tập trung nhiều nhất ở đuôi nên khi chế biến phải bảo tồn đuôi mới tốt.
Theo Đông y, tắc kè vị mặn, tính ấm; quy vào hai kinh phế, thận. Tác dụng bổ phế khí, ích tinh huyết, bổ thận dương. Liều dùng 3-5g bột.
Bài thuốc có tắc kè
Bài 1: Chữa tà khí ở vùng phế, trong ngực tích huyết gây đau, mất tiếng, ho lâu ngày mất tiếng: dùng cáp giới 1 đôi, sinh địa hoàng 80g, a giao 40g, kha tử 60g, mạch môn đông 80g, tế tân 30g, cam thảo 40g, hoàn viên bằng quả táo mỗi lần uống 1 viên, ngâm cho tan ra trước bữa ăn.
Bài 2: Trường hợp suyễn cấp ở người cao tuổi thể trạng hư yếu thường hình thành chứng trên thực dưới hư, suyễn gấp đoản hơi, so vai để thở, đàm khò khè, lưng lạnh sợ rét nặng hoặc sau khi đàm suyễn đã dịu cần phải ôn thận, nạp khí, hóa đàm, lợi phế, bình suyễn, chỉ khái dùng bài Cáp giới tứ tử phương: cáp giới 1 đôi, câu kỳ tử 12g, sa uyển tử 12g, tiền hồ 9g, trầm hương 2g, nữ trinh tử 12g, thỏ ty tử 12g, hạnh nhân 12g, tử uyển 9g. Tán bột hòa nước ấm uống mỗi lần 8g ngày 2-3 lần.
